TRANG CHỦ PGD SƠ ĐỒ WEBSITE LIÊN HỆ
  
TRANG TIN CÁC ĐƠN VỊ
  Đang truy cập: 38  
 
4 6 3 9 2 9
 
 
Tài nguyên SKKN
Trao đổi thêm về Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận văn bản của học sinh lớp 9.

 

A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

            I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

            Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng với khoa học kĩ thuật thì yêu cầu đặt ra trong việc giáo dục đào tạo con người cũng đòi  hỏi cao hơn. Để hoà nhập với sự phát triển chúng ta đó tiến hành đổi mới trong giáo dục và dạy học.

            Mục đích của việc đổi mới là nhằm mục đích phát huy tính tích cực và chủ động của người học trong việc lĩnh hội tri thức để có thể nắm chắc, hiểu sâu và cao hơn là để vận dụng những điều đó học vào thực tế cuộc sống và làm chủ cuộc sống.

        Hơn nữa việc dạy học hiện nay ở bậc THCS chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Học sinh còn ngại và lười học môn Ngữ văn, chưa có hứng thú học tập nghiên cứu.

            II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

* Nhiệm vụ của đề tài:           Nhận thức rõ vai trò to lớn của giáo dục nghị quyết TW IV khoá 7 đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới  PPDH ở tất cả các cấp học, bậc học” và xác định khuyến khích tự học “phải áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại” để “bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Luật giáo dục điều 24.2 đã quy định “Phương pháp giáo dục - đào tạo phổ thông, phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo, tích cực, tự giác của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho học  sinh”.

            Như vậy định hướng PPDH đó được khẳng định rất rõ ràng. Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường THCS là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động. Một trong những khâu quyết định thành công của việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực là khâu thiết kế bài soạn. Đây chính là nhiệm vụ quan trọng của đề tài.

            Xuất phát từ yêu cầu chung của ngành về sự cần thiết phải đổi mới PPDH ở các bậc học và đó thực hiện một cách toàn diện ở các khối lớp của bậc THCS. Tuy nhiên đối với khối lớp 9 thì đây là khối mới thực hiện năm  thứ ba. Hơn nữa đây lại là khối cuối cấp, chuyển cấp nên việc áp dụng đổi mới PPDH để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào bài kiểm tra, bài thi là rất quan trọng. Người giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu bài, biết trình bày, biết cách diễn đạt những suy nghĩ, những cảm nhận kiến thức về môn Ngữ văn vào làm bài kiểm tra, bài thi để các em thể thi vào THPT đạt kết quả cao. Muốn vậy trong quá trình dạy học người giáo viên phải có một thiết kế bài soạn tốt, khoa học để giúp học sinh hiểu sâu, hiểu kĩ và biết vận dụng kiến thức đó vào quá trính làm văn.

            Tuy nhiên trong thực tế còn có một số giáo viên khi thiết kế bài giảng chưa hiểu hết tầm quan trọng này nên chưa đầu tư thời gian, tâm huyết để có được những giáo án, đáp ứng nhu cầu hiểu biết và phát huy tính tích cực của học sinh.

            * Giới hạn của đề tài: Xuất phát từ tình hình thực tế nên tôi mạnh dạn thực hiện chuyên đề này trong phạm vi môn Văn lớp 9.

            * Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp lí luận: Đọc tài liệu: Sách thiết kế câu hỏi, thiết kế bài giảng theo hướng tích hợp, hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản..

+Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Học tập đồng nghiệp qua trao đổi, dự giờ...

 

B - NỘI DUNG

 

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.

            1.Cơ sở lí luận.

            Dạy học là một nghệ thuật của người GV là một người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ muốn thành công trên sân khấu trước hết phải có một kịch bản tốt. Điều kiện để quyết định sự thành công của giờ học là khâu chuẩn bị, nghĩa là khi thiết kế giáo án đó thể hiện chất lượng của giờ học.

   Sách giáo khoa đó đưa ra hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản song hệ thống câu hỏi cũng mang tính khai quát, chưa cụ thể để khai thác từng khía cạnh của vấn đề

       Chính vì vậy khâu chuẩn bị để thiết kế bài soạn là vô cùng quan trọng.

            2. Cơ sở thực tiễn:

            Bài soạn là sản phẩm trí tuệ của GV, nó là hội tụ tất cả toàn bộ năng lực dạy học của  người GV từ kiến thức kĩ năng đến cách vận dụng PPDH , cách xử lí tình huống ... của người thiết kế.

         Bài soạn là chiếc cầu nối mà ở đó người GV đó chỉ ra đường đi nước bước, dẫn dắt học sinh tìm đến chân lí của tri thức. Cho nên để có một bài soạn tốt đáp ứng nhu cầu nhận thức và phát huy tính tích cực của người học,  người GV phải có tâm huyết và trách nhiệm, phải xuất phát từ quyền lợi và khát khao nhận thức của học sinh, nghĩa là phải  thực sự tôn trọng học sinh.

             Trong quá trình thử nghiệm dạy học tôi đó thấy có nhiều chuyển biến trong giờ học, học sinh chú ý tập trung hơn, nhiều em đó biết phân tích và bình từ các câu hỏi mà tôi đưa ra.

             Cơ sở vật chất của nhà trường đó có nhiều thay đổi như được trang bị máy tính sách tay, máy chiếu đa năng, nối mạng... phục vụ đắc lực cho việc dạy học.

Bên cạnh những điểm đó đạt được, vẫn còn nhiều thiếu sót như ý thức học của HS chưa cao, một số câu hỏi của giáo viên trong buổi đầu vận dụng chưa thật hiệu quả cao.

II. NỘI DUNG:

            1. Yêu cầu cơ bản khi thiết kế bài soạn

            Khi thiết kế bài soạn theo phương pháp tích cực cần phải nghiên cứu kĩ và nắm vững các yêu cầu sau:

            1.1 Mục tiêu bài học:

            Là cái đích cần đạt đến trong giờ dạy học, nó mang tính chất định hướng để khai thác nội dung bài học. Cho nên trong mỗi bài soạn phân môn Văn cần nắm được 3 mục tiêu cơ bản sau:

            - Về kiến thức: Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản của tiết học.

            - Về kĩ năng: Hình thành, rèn luyện kĩ năng cảm thụ, phân tích, khái quát nội dung bài học.

            - Về thỏi độ: Hình thành thái độ, tình cảm với vấn đề trong bài học, với chính bản thân học sinh.

            1.2 Ý tưởng chung trong việc thiết kế bài soạn.

            Thực tế đó chứng minh con đường phát triển tư duy của con người diễn ra theo quy luật từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng rồi quay trở lại thực tiễn. Giá trị lớn nhất của phương tiện dạy học nằm ở sự tác động của chúng tới  các giác quan đặc biệt là thính giác và thị giác. Các nhà nghiên cứu đã tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan tới qua trình tiếp thu tri thức như: 20% qua nghe được, 30% qua nhìn, 50% qua nhìn và nghe, 80% qua nói, 85% qua nói và làm. Điều này khẳng định cần thiết phải có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn trong giờ học, tránh dạy chay.

            Trong khi soạn bài giáo viên cần nắm được cách sử dụng các loại phương tiện dạy học và tác dụng của mỗi loại với từng loại đơn vị kiến thức.

            + Tranh ảnh minh  hoạ: Đó là bức chân dung nhà văn nhà thơ hoặc những bức tranh minh họa trong tác phẩm. Đây là những kênh hình tác động trực tiếp đến thị giác và tình cảm, cảm xúc của học sinh.

             Ví dụ: Khi dạy bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Đồng chí”, “Đoàn thuyền đánh cá” GV cho học sinh quan sát những bức chân dung của các nhà thơ để khơi dậy tình cảm yêu mến của các em đối với nhà thơ, tạo tâm thế cho việc tiếp  nhận văn bản.

            + Máy chiếu - bảng phụ: Loại phương tiện này giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp, như thế sẽ dành được nhiều thời gian cho phần tổng kết, lưu ý, nhấn mạnh... máy chiếu, bảng phụ còn giúp học sinh quan sát được các dữ liệu, kiến thức cụ thể, chi tiết, rõ ràng và toàn diện hơn.

            Trong khi thiết kế bài soạn, GV có thể sử dụng máy chiếu - bảng phụ vào phần kiểm tra bài cũ, làm bài tập trắc nghiệm, tổng kết, luyện tập, củng cố và có thể chiếu các kết quả bài tập của học sinh lên màn hình cho các em nhìn và đối chiếu những đoạn văn bình hay, hấp dẫn của GV... để học sinh quan sát, hiểu sâu hơn và hứng thú hơn.

            + Đài, băng, đĩa: Là những kênh hình có tác động trực tiếp đến thính giác và tâm hồn học sinh tạo nên hứng thú, niềm đam mê tìm hiểu nghệ thuật. Đối với học sinh trong giờ Ngữ văn được xem một đoạn văn, một mẩu thông tin, vài phút nghe băng đĩa... là một điều hết sức thú vị có tác dụng kích thích niềm đam mê với môn học.

             Ví dụ: Khi dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng lăng Bác” GV có thể tổ chức cho học sinh nghe bài hát được phổ nhạc từ bài thơ đó. Điều nay không chỉ giúp học sinh cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của bài thơ mà còn cảm nhận giai điệu ngọt ngào tha thiết của tác phẩm, từ đó sẽ gợi lên những rung động trong tâm hồn học sinh.

             + Phiếu học tập: Là những tờ giấy rời, in sẵn yêu cầu công việc với cá nhân hoặc với nhóm được phát cho học sinh để hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học. Mỗi phiếu học tập có thể giao cho học sinh một vài câu hỏi hay bài tập cụ thể để nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, dẫn dắt tới một kĩ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thỏi độ trước một vấn đề.

            Ví dụ: Khi dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ”, đến phần luyện tập yêu cầu viết đoạn văn GV cú thế phát cho mỗi nhóm học sinh một phiếu học tập (bằng giấy hoặc bằng giấy trong) yêu cầu học sinh trình bày đoạn văn vào đó sau đó chiếu đoạn văn của từng nhóm lên máy chiếu cho cả lớp quan sát, nhận xét, bổ sung.

            + Bảng nhóm: Đây là đồ dùng có tác dụng trong việc tổ chức cho HS làm việc theo nhóm. Khi nhóm HS viết vào đó những hiểu biết, suy nghĩ, ý kiến, kiến thức... vào đó và giơ lên, GV đứng trên bục giảng có thể quan sát dễ dàng hoặc có thể dùng kết quả trên bảng đó cho cả lớp quan sát và nhận xét, như thế việc thảo luận nhóm sẽ sôi nổi phong phú và đạt hiệu quả cao hơn.

            Đó là những phương tiện thông dụng và tiện lợi. Vậy khi soạn bài GV cần xem xét để đưa những phương tiện đó vào khai thác từng đơn vị kiến thức

            1.3 Yêu cầu và giải pháp nhằm thiết kế hệ thống câu hỏi trong bài soạn

* Yêu cầu:

            Đây là phần quan trọng thể hiện việc chính là việc đổi PPDH và phát huy tính tích cực của HS. Nên khi soạn bài GV cần phải thiết kế một hệ thống câu hỏi khoa học và phù hợp. Mỗi câu hỏi là một nhiệm vụ kiến thức trong đó có hoạt động của thầy và hoạt động của trò. Điều công phu nhất là có được hệ thống câu hỏi  giúp mọi đối tưọng học sinh đều chủ động tích cực học tập. Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, khoa học sẽ là điều kiện để tích cực hoá các hoạt động của học sinh trong giờ học. Cơ sở để xây dựng câu hỏi là dựa trên gợi ý của SGK, SGV, sách bài tập nhưng không thể bỏ qua việc xem xét năng lưc thực của học sinh. Với cách dạy mới yêu cầu một câu hỏi, một vấn đề đưa ra là phải động đến nhiều đối tượng học sinh, phải có nhiều đối tượng được suy nghĩ và trình bày ra điều được điều mình nghĩ. Do vậy trong mỗi giờ học số câu hỏi không nên quá nhiều, tránh hỏi các câu đơn giản vụn vặt hoặc đi qua xa yêu cầu của bài học. Trong mỗi câu hỏi nên phân  thành nhiều mức độ yêu cầu để có thể kiểm tra đánh giá được nhiều đối tượng học sinh. Như vậy việc xây dưng hệ thống câu hỏi trong dạy học phân môn Văn để phát huy tính tích cực của học sinh và tạo điều kiện cho tất cả các đối tượng học sinh đều được suy nghĩ tìm tòi, khám phá thì phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Câu hỏi phải đi từ dễ đến khó

+ Đặt câu hỏi phải bám sát hệ thống đó có trong SGK.

+ Đặt câu hỏi trong tầm khả năng vừa sức của học sinh.

+ Đặt câu phải ngắn gọn dễ hiểu.

+ Không nên đặt câu hỏi mà câu trả lời là sự mò đoán.

+ Cần có những câu hỏi gợi mở, câu hỏi có nhiều phương án trả lời.

            + Cần có câu hỏi cho học sinh khá, giỏi: câu hỏi phân tích, so sánh, giảng bình, khái quát, tổng hợp.

            + Cần có câu hỏi cho học sinh trung bình, học sinh yếu: câu hỏi phát hiện, tái hiện, gợi mở...

            + Cũng cần có câu  hỏi cho học sinh chưa chú ý

            + Câu hỏi phải đúng lúc, có thể nhắc lại câu hỏi hoặc những câu hỏi nhỏ gợi ý cho học sinh chưa hiểu còn lúng túng.

            + Tranh các câu hỏi vụn vặt gò học sinh theo cách hiểu của giáo viên.

* Giải pháp lựa chọn kiểu câu hỏi vào thiết kế bài soạn

            Câu hỏi được chia làm nhiều loại, nhiều mức độ khác nhau. Khi thiết kế bài soạn GV cần lựa chọn câu hỏi cho phù hợp, tài hoa, phát huy được mọi đối tượng học sinh.

            + Câu hỏi tái hiện và phát hiện: là những câu hỏi giúp học sinh phát hiện vấn đề cần khám phá.

Ví dụ: Nhân vật chính trong truyện ngắn “Làng” là ai? Kim Lân giới thiệu nhân vật đó khi nào?

Khi nghe tin làng mình theo giặc tâm trạng ông Hai được biểu hiện qua những chi tiết nào? (Cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân...)

      Về đến nhà nhìn lũ trẻ chơi ngoài sân, ông Hai có suy nghĩ gì? (nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông giàn ra...)

            + Câu hỏi gợi mở: là câu hỏi mà khi đó nêu ra đã có sự gợi ý khiến cho học sinh dễ nhận ra vấn đề.

            Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng, thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” GV hỏi: “Mặt trời đi qua trên lăng” là chỉ đối tượng nào? (Mặt trời thiên nhiên); “...Mặt trời trong lăng rất đỏ” là chỉ đối tượng nào? (Bác Hồ). Vậy lấy hình ảnh mặt trời để chỉ Bác là sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? (ẩn dụ)

            + Câu hỏi nhận xét - phân tích: Là loại câu hỏi mà GV đưa nên để học sinh nhận xét chung của mình về một hiện tượng, về một vấn đề nào  đó trong bài rồi từ đó có hướng phân tích khám phá chiều sâu của hiện tượng, về một vấn đề có ý nghĩa mới mẻ, độc đáo.

            Ví dụ: Qua nghệ thuật miêu tả tài và sắc của nàng Kiều của Nguyễn Du em có cảm nhận gì về cuộc đời nàng? (dự báo một tương lai bất ổn).

Em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả người của Nguyễn Du trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”? (Nguyễn Du có biệt tài miêu tả người: miêu tả chân dung nhưng lại dự báo tương lai số phận).

            Tình đồng chí, đồng đội được thể hiện qua những khía cạnh nào trong bài thơ “Đồng chí”?

            + Câu hỏi so sánh: Là loại câu hỏi mà giáo viên đưa ra để giúp học sinh từ hiện tượng, vấn đề này so sánh đối chiếu với với hiện tượng, vấn đề khác (trong cùng một tác phẩm hay giữa các tác phẩm khác....) để tìm ra những nét tương đồng hoặc khác biệt. Như vậy sẽ giúp học sinh hiểu sâu vấn đề, đồng thời rèn luyện tư duy so sánh, đối chiếu.

            Ví dụ: Em hãy so sánh tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc và tâm trạng ông khi tin làng mình theo giặc được cải chính?

            Hoặc hãy so sánh hình ảnh người lính trong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” với hình ảnh người lính trong bài “Đồng chí”? (Cùng khắc họa những phẩm chất cao đẹp sáng ngời của người lính: sống có lí tưởng, ý chí kiên định, ngoan cường, hiên ngang dũng cảm, coi thường gian khổ, lạc quan vui  vẻ...)

            + Câu hỏi bình giá: Là loại câu hỏi nêu ra để học sinh đánh giá, bình luận, thể hiện thái độ trước một vấn đề nào đó của bài học.

            Ví dụ: Em đánh giá gì về thành công của Truyện Kiều trong nền văn học nước nhà?

            Em có suy nghĩ gì về tâm trạng đau đớn và nỗi thù làng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

            + Câu hỏi  chuyển ý: Là loại câu hỏi đưa ra để chuyển tiếp nội dung này sang nội dung khác trong bài học một cách liền mạch, nhịp nhàng khiến cho diễn biến giờ học không bị gián đoạn.

            Ví dụ: Trước niềm xúc động vô bờ khi được ra thăm lăng Bác, nghĩ đến ngày mai phải xa Bác về miền Nam, nhà thơ có nguyện ước gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu khổ thơ cuối?   

            + Câu hỏi khái quát tổng hợp: Là loại câu hỏi mà GV đưa ra để học sinh suy nghĩ, tìm hiểu khái quát nội dung của bài học.

            Ví dụ: Qua tìm hiểu diễn biến của nhân vật ông Hai và những nhân vật khác, em hãy khái quát ý nghĩa của truyện ngắn “Làng”?(Ca ngợi tình yêu làng quê, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân trước cách mạng tháng 8)

            Qua tìm hiểu mạch cảm xúc của nhà thơ và những hình ảnh trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” em hãy khái quát lên chủ đề bài thơ? (Chủ đề: ước nguyện hiến dâng cho cuộc đời, cho đất nước)

            Bài thơ hay, hấp dẫn có giá trị lâu bền bởi những thành công nghệ thuật đắc sắc nào?

            1.4 Vận dụng các giải pháp tổ chức dạy học trong thiết kế bài soạn

            Thực hiện  đổi mới PPDH để phát huy tính tích cưc cho học sinh ở tất cả các môn học nhưng ở mỗi môn học cụ thể lại phải áp dụng đổi mới PPDH cho hợp lý và đạt hiệu quả. Đối với phân môn Văn thì áp dụng phương pháp đem lại hiệu quả là kết hợp hài hòa giữa PP thuyết giảng và PP đàm thoại nêu vấn đề.

            - PP thuyết giảng là PP truyền thống nhưng nó vẫn được phát huy và đem lại tác dụng quan trọng trong giờ học. GV sử dụng PP thuyết giảng để vào bài, dẫn dắt, chuyển đoạn hoặc bình giảng một hay hai chi tiết nghệ thuật hay, khó, độc đáo mà khả năng học sinh chưa thể khám phá....

            - PP đàm thoại - nêu vấn đề: là PP hiện đại có tác dụng phát huy tính tích cực chủ sáng tạo của học sinh. Bằng hệ thống câu hỏi khoa học hợp lý, GV dẫn dắt học sinh khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm.

            Vậy khi soạn bài GVcần lấy hai PP này làm hai cơ sở định hướng để thiết kế hệ thống câu hỏi và vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học (Hình thức dạy học đồng loạt và hình  thức dạy học theo nhóm)

            Ngoài ra khi thiết kế bài soạn phân môn Văn cần chú ý :

            + Chú trọng đặc trưng bộ môn, đặc trưng thể loại.

            + Quán triệt nguyên tắc tích hợp trong soạn giảng.

            + Vận dụng linh hoạt tới  từng văn bản, với từng thể loại.

            Trên đây là những yêu cầu cơ bản mà khi thiết kế bài soạn người GV cần phải thực hiện một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo trong giáo án và tiết dạy để đạt được mục tiêu bài học

            Cách vận dụng thực hiện thiết kế bài soạn

             Bước 1.

            Đọc văn bản: hiểu rõ tầm quan trọng của việc thiết kế bài soạn trong dạy bộ môn nên trước khi soạn bài tôi luôn chuẩn bị tâm lí tiếp nhận, thẩm thấu tác phẩm bằng cách đọc rất kĩ văn bản, thậm chí thuộc lòng những bài thơ và một số đoạn văn xuôi quan trọng để hiểu được giá trị nghệ thuật, nội dung tư tưởng, dụng ý mà tác giả gửi gắm trong đó.

              Bước 2

            Nghiên cứu mục tiêu bài học, tìm hiểu SGV, tìm hiểu hệ thống câu hỏi trong SGK, sách thiết kế bài dạy (nếu có) và một số tài liệu tham khảo khác để nắm chắc kiến thức trọng tâm của bài rồi liên hệ tích hợp đến những kiến thức liên quan giúp học sinh hiểu sâu rộng kiến thức bài học.

            Bước 3

            Sử dụng phương tiện dạy học, căn cứ vào nội dung bài học để sử dung như minh họa, đài, đĩa , máy chiếu, bảng phụ, phiếu học tập...

              Bước 4

            Định hướng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để thiết kế hệ thống câu hỏi cho bài soạn.

              Bước 5

 

             Minh hoạ bằng một giáo án

                                                Tiết 116:  

MÙA XUÂN NHO NHỎ

                                                                                           Thanh Hải

 

            A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:

            Giúp học sinh cảm nhận được những cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ, dâng hiến cho đời. Từ  đó mở ra  những suy nghĩ và ý nghĩa, giá trị của cuộc sống của mỗi cá nhân là sống có ích, có nhiều cống hiến cho cuộc đời chung.

            Rèn luyện kĩ năng cảm thụ, phân tích hình ảnh thơ trong mạch vận động của tứ thơ

            B.  CHUẨN BỊ :

            GV: Giáo án, đĩa bài hát “Mùa xuân nho nhỏ” của nhạc sĩ Trần Hoàn, đài , máy chiếu, phiếu học tập, chân dung nhà thơ Thanh  Hải.

            HS: Soạn bài, thuộc thơ

 

            C. TIẾN TRÌNH CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

            1.Ổn định tổ chức

            2. Kiểm tra bài cũ: Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ “Con cò". Em thích câu thơ nào nhất, vì sao?

            ?Từ những hình ảnh con cò, nhà thơ đã khái quát lên quy luật triết lí nào về lòng mẹ.

            3. Bài mới

            Giới thiệu bài: Mùa xuân là đề tài muôn thuở của thi ca. Đó có biết bao nhà thơ dệt lên nhưng bức tranh xuân tươi đẹp làm xao xuyến lòng người. Từ mùa xuân của Nguyễn Du:

                                    Ngày xuân con én đưa thoi

                        Thiều quang chín chục đó ngoài sau mươi

                                    Cỏ non xanh tận chân trời

                        Cành lê trắng điểm  một vài bông hoa

            Đến “Mùa xuân chín” của Hàn Mạc Tử:

                        Trên làn nắng ửng: khói mơ tan

                        Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

                        Sột soạt gió trêu tà áo biếc

                        Trên giàn thiên lí bóng xuân sang.

            Thì nhà thơ Thanh Hải lại đúng góp vào làng thơ một bức tranh xuân không kém phần độc đáo, thú vị đó là bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”

            Hơn hai mươi năm qua, mỗi khi tết đến xuân về chúng ta  lại được nghe bài hát “Mùa xuân nho nhỏ” của nhạc sĩ Trần Hoàn phổ thơ Thanh Hải. Hôm nay thêm một lần nữa chúng ta lại được nghe bài hát này - cho học sinh nghe đĩa nhạc.

GV cho học sinh quan sát chân dung  nhà thơ

Hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả?

GV bổ sung

 

 

 Bài thơ được viết trong hoàn cảnh, thời gian  nào?

 

 

 

 

GV nêu yêu cầu đọc

 

 

GV kiểm ta một số chú thích 1, 2, 3, 4

 

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào?

Hãy nêu cách ngắt nhịp?

GV cho học sinh chỉ ra chỗ ngắt nhịp ở từng câu thơ, khổ thơ

 

 

 

 

 

 

 

? Hãy chỉ ra mạch cảm xúc của bài thơ?

 

 

 

 

 

 

 

Nhận xét về mạch cảm xúc của nhà thơ?

 

GV: Mùa xuân là đề tài muôn thở của thơ ca, mùa xuân đem đến bao niềm cảm xúc dạt dào xao xuyến cho mỗi thi nhân. Còn thi sĩ Thanh Hải có cảm nhận như thế nào trước mùa xuân thiên nhiên đất trời.... Ta tìm hiểu khổ thơ đầu  

HS đọc khổ thơ đầu

? Mùa xuân của thiên nhiên đất trời được phác họa qua những chi tiết hình ảnh nào?

?Qua những nét phác họa ấy tác giả đã vẽ lên một khung cảnh như thế nào? Hoặc có thể hỏi: Em có cảm nhận như thế nào về không gian, màu sắc, âm thanh của đoạn thơ?

                          GV bình - chốt lại

 

 

 

 

? Trước cảnh thiên nhiên đất trời vào xuân đó, tác giả có cảm xúc thế nào? thể hiện qua câu thơ nào?

? “Từng giọt long lanh rơi” nghĩa là gì?

 

 

? Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai thì câu thơ đó sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

 

 

 

 

 

?Với biện pháp nghệ thuật ấy, 2 câu thơ nói lên cảm xúc gì của nhà thơ?

 

Chuyển: Từ cảm xúc về mùa xuân thiên nhiên đất trời nhà thơ mở rộng cái nhìn về mùa xuân như thế nào? Ta đi tìm hiểu khổ thơ tiếp theo.

HS đọc khổ thơ 2,3

Mùa xuân của đất nước được miêu tả qua những hình ảnh nào?

? Hình ảnh “Người cầm súng”, “người ra đồng” tượng trưng cho nhiệm vụ nào?

GV thuyết giảng: 2 câu thơ khiến ta nhớ lại thời kì lịch sử những năm 80 diễn tả không khí khẩn trương hào hứng của đất nước trước hai nhiệm vụ chính: sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước.

? Hình ảnh người cầm súng, người ra đồng gắn với hình ảnh “Lộc giắt đầy quanh lưng” và “Lộc trải dài lương mạ”. Vậy hình ảnh “Lộc” ở đây được hiểu như thế nào?

? Nếu phải bình chi tiết này thì em bình như thế nào?

 

 

 

 

 

 

Chú ý vào khổ thơ, em thấy khổ thơ đó sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

? Biện pháp nghệt thuật ấy có tác dụng gì?

 

 

? Từ cảm nhận về nhịp điệu hối hả náo nức của mùa xuân, đất nước tác giả có suy tư như thế nào về đất nước?

? Hãy chỉ ra biện pháp nghệ thuật của khổ thơ

 

Tác dụng của biện pháp nghệ thuật  ấy?

 

 

 

 

 

Chuyển: Từ niềm suy ngẫm về đất nước về mùa xuân lớn ấy tác giả có tâm nguyện như thế nào?

Đọc khổ thơ 4,5

? Những từ ngữ nào thể hiện ước nguyện của nhà thơ?

Nhận xét gì về những hình ảnh này?

 

 

? Em hiểu gì về ước nguyện của tác  giả?

 

? Em có nhận xét gì về ước nguyện của tác giả?

Gợi ý: những nguyện ước của nhà thơ chỉ là những đơn vị rất nhỏ: con chim, một nhành hoa, một nốt nhạc.

?Nhận xét biện pháp nghệ thuật của khổ thơ

? Đại từ “ta” ở đây có ý nghĩa như thế nào?

? Vậy biện pháp nghệ thuật điệp từ; “ta” có ý nghĩa gì?

 

 

 ? Vậy theo cách diễn đạt của nhà thơ, ước nguyện làm con chim hót, cành hoa, nốt nhạc để làm gì?

 

 

? Nhận xét biện pháp nghệ thuật ở câu thơ: “Mùa xuân.... nho nhỏ”

? Từ hình ảnh thơ đó, em hiểu được điều gì từ ước mơ của Thanh Hải

? Em hiểu gì ý thơ:

 “Dù là tuổi hai mươi

   Dù là khi tóc bạc"

? Nêu biện pháp nghệ thuật của câu thơ? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó.

*GV bình: Đó là ước nguyện thật chân thành, mãnh liệt, bất chấp thời gian, tuổi tác, dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng nhà thơ vẫn khao khát cống hiến, sống có ích cho cuộc đời.

? Em có suy nghĩ gì về ước nguyện của nhà thơ

+ Đọc khổ thơ 6

GV nêu yêu cầu

? Khổ thơ nói lên tâm trạng gì của nhà thơ

 

GV chốt lại

? Từ ước nguyện của nhà thơ, em hiểu gì về nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ”.

 

 

 

? Từ đó em khái quát lên chủ đề của bài thơ

 

 

? Khái quát nghệ thuật đặc sắc của bài thơ

 

 

? Qua bài thơ Thanh Hải muốn gửi gắm điều gì tới bạn đọc

GV chiếu phần tổng kết lên màn hình

Cho Hs đọc

GV chốt lại nội dung bài học

HS đọc ghi nhớ

 

*Tổ chức hoạt động nhóm

Cho 4 nhóm mỗi nhóm chọn một khổ để bính

GV phát phiếu học tập cho HS (Giấy trắng) để học sinh trình bày đoạn văn

*GV gợi ý

GV chiếu kết quả lên bảng

*Các nhóm đọc nhận xét bổ sung

I. GIỚI THIỆU CHUNG

1. Tác giả :(1930-1980)

+ Quê: Phong Điền- Thừa Thiên Huế

+ Ông là cây bút có công xây dựng nền văn học Việt Nam từ những ngày đầu thành lập.

2. Tác phẩm:

-Bài thơ sáng tác năm 1980, khi tác giả đang nằm trên gường  bệnh, không bao lâu thì tác giả qua đời. Vì thế tình yêu đời, yêu cuộc sống đó được dồn tụ trong bài thơ.

II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN

1. Đọc chú thích, bố cục

*Đọc

Khổ 1: giọng vui tươi, xao xuyến

- Những khổ thơ còn lại đọc giọng thiết tha trìu mến.

*. Chú thích: Sgk

* Thể thơ: 5 chữ

- Cách ngắt nhịp 3/2, 2/3 xen kẽ giữa các câu thơ trong khổ thơ, giữa các khổ thơ.

Mọc giữa dòng/ sông xanh

Một bông hoa/ tím biếc

Ơi con chim/ chiền chiện

Hót chi/ mà vang trời

 

Đất nước/ bốn nghìn năm

Vất vả/ và gian lao

Đất nước/ như vì sao

Cứ đi lên/ phía trước.

*. Mạch cảm xúc (Bố cục)

+ Khổ 1: Cảm xúc trước mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên

+ Khổ 2, 3: Cảm xúc trước mùa xuân đất nước.

+ Khổ 4,5: Suy nghĩ và ước nguyện hiến dâng của nhà thơ vào mùa xuân lớn của dân tộc

+ Khổ 6: Cảm xúc thiết tha tự hào về quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.

 Mạch cảm xúc diễn ra tự nhiên phù hợp với tâm trạng lòng người trước cảnh thiên nhiên đất nước vào mùa xuân. Chính mạch cảm xúc đó tạo nên bố cục chặt chẽ cho bài thơ.

2. Phân tích

a,Mùa xuân thiên nhiên đất trời

- Sông xanh, hoa tím biếc

- Chim hót vang trời

 4 câu thơ đó vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp về mùa xuân chỉ bằng vài nột phác họa nhưng đó vẽ ra một không gian cao rộng, phóng khoáng, bay bổng, màu sắc tươi thắm, trong sáng (sông xanh, hoa tím biếc), âm thanh thì vui vẻ, náo nức, rộn rã, vang vọng (Chim chiền chiện hót vang trời)

Như vậy 4 câu thơ đã phác họa nên hình ảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng tưng bừng, rộn rã và rất thơ mộng. Đó là cảnh thiên nhiên đất trời vào xuân

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

 

“Giọt” nghĩa

+ Giọt mùa xuân, giọt sương (nghĩa thực)

+ Giọt tiếng chim, giọt mùa xuân

 Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Từ thị giác (Sông xanh, hoa tím); từ thính giác (Tiếng chim) xúc giác (hứng)

mùa xuân được cảm nhận bằng mọi giác quan. Cảm nhận bằng cả tâm hồn, trái tim và cả những cảm giác về cơ thể.

- 2 câu thơ diễn tả cảm xúc say sưa, ngây ngất, niềm nâng niu trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp mùa xuân.

b, Mùa xuân của đất nước, mùa xuân của lồng người.

- Người cầm súng - Lộc... quanh lưng

- Người ra đồng - lộc ...lương mạ

 

2 nhiệm vụ: Chiến đấu + lao động sản xuất để bảo vệ và xây dựng đất nước.

 

 

 

 

- Lộc: + Lộc non, chồi biếcĐặc điểm của mùa xuân

          + Tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của đất nước.

- Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để được bảo vệ tổ quốc. Người nông dân đem mồ hôi, sức lao động cần cù làm lên màu xanh cho đồng ruộng, ý thơ sâu sắc: Máu và mồ hôi của nhân dân góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ mãi màu xanh cho mùa xuân. Mùa xuân đất nước đọng lại trong hình ảnh “lộc”. Con người đem mùa xuân đem sức sống mãnh liệt đến cho đất nước.

-  Điệp từ (lộc, mùa xuân, tất cả)

- Từ láy (xôn xao, hối hả)

- Tác dụng: Tạo nhạc điệu cho khổ thơ và gợi lên không khí hối hả, khẩn trương, tưng bừng nhộn nhịp của đất nước, của lòng người.

Đất nước bốn ngàn năm

Vất vả và gian lao

Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước

- Nghệ thuật so sánh: Đất nước được sánh với vì sao - một hình ảnh tươi đẹp, kì vĩ, sáng ngời

- So sánh đất nước như vì sao là bộc lộ niềm tự hào về đất nước anh hùng, kiên cường bất khuất, vượt qua mọi thử thách gian nan, để vượt lên tỏa sáng. Khổ thơ thể hiện niềm suy ngẫm về sức sống mãnh liệt của dân tộc.

c. Ước nguyện của nhà thơ

Ta làm: + Con chim hót

             + Cành chim

             + Nốt trầm xao xuyến

Đó là  những hình ảnh miêu tả vẻ đẹp, âm thanh rộn ràng náo nức của mùa xuân

- Nhà thơ ước nguyện làm con chim hót, cành hoa, nốt nhạc để góp phần làm tươi đẹp cho thiên nhiên, tụ điểm cho cuộc sống, tạo nên niềm vui phấn chấn cho cuộc đời

- Ước nguyện rất  chân thành, giản dị, khiêm tốn nhưng lại rất cao đẹp đáng trân trọng.

 

 

-Điệp từ “ta”: vừa chỉ nhà thơ nhưng cũng chỉ chung mọi người.

- Đây là ước nguyện của nhà thơ nhưng đồng thời cũng là ước nguyện của mọi người, nhà thơ đã nói giùm.Vì trong thời điểm lịch sử ấy ai cũng khát khao được cống hiến sức mạnh cho đất nước.Cho nên đó là ước nguyện chung của mọi thời đại.

“Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời”

 

“Một ... nho nhỏ”: ẩn dụ: nhà thơ ước nguyện làm một mùa xuân nho nhỏ để góp phần vào mùa xuân lớn của đất nước

- Ước mong dâng hiến một phần bộ nhỏ của mình cho cuộc đời

 

 

Nghệ thuật điệp từ nhấn mạnh ước nguyện dâng hiến chọn cuộc đời mình cho đất nước.

 

=> Ước nguyện của nhà thơ thật giản dị và khiêm tốn nhưng thật thanh cao, đẹp đẽ. Ước nguyện ấy đó làm xúc động người đọc và khơi dậy tâm niệm cống hiến cho đất nước ở thế hệ trẻ hụm nay.

d. Niềm tự hào về quê hương đất nước

- Niềm vui, náo nức, bồi hồi, xúc động của nhà thơ trước vẻ đẹp của quê hương đất nước trong buổi xuân về.

- Cảm xúc bâng khâng, xao xuyến.

+ Nhan đề: Mùa xuân nho nhỏ là ước nguyện được cống hiến một phần nhỏ bộ của mình cho cuộc đời để làm lên vẻ đẹp của mùa xuân lớn - mùa xuân thiên nhiên  đất trời - mùa xuân đất nước.

- Chủ đề: ước nguyện hiến dâng

Tổng kết: 

  *Giọng thơ say sưa, thiết tha trìu mến. Hình ảnh thơ trong sáng tươi đẹp, gợi cảm. Thể thơ năm chữ, giàu nhạc điệu tạo nên âm hưởng thiết tha sôi nổi du dương. Nghệ thuật ẩn dụ, so sánh nhân hóa sử dụng rất thành công

*Tiếng lòng thiết tha thể hiện tình yêu đời yêu đất nước chân thành mãnh liệt của nhà thơ. Ước nguyện sống hiến dâng cho đời

*Ghi nhớ:

III. Luyện tập:

Bài tập 2: Viết một đoạn văn bình một khổ thơ mà em thích trong bài.

 

+Nhận xét đặc sắc nghệ thuật của khổ thơ

+ Đánh giá về nội dung: Hình ảnh thiên nhiên đất nước, cảm xúc, tình cảm thái độ, ước nguyện của nhà thơ trong khổ thơ

.

 

            4. CỦNG CỐ:

? Qua ước nguyện của nhà thơ em có suy nghĩ gì?

+ Cho HS đọc diễn cảm bài thơ

+ Cho HS nghe lại bài hát.

            5. HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ

+ Học thuộc lòng bài thơ

+ Nắm được nội dung nghệ thuật của bài

+ Hiểu nội dung ý nghĩa của bài

+ Hoàn thành bài tập 2

+ Soạn bài “Viếng lăng Bác” Trả lời câu hỏi theo sgk

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP

* Để thực hiện giải pháp này, tôi đã chia lớp 9 thành 2 nhóm để kiểm chứng:

+ Nhóm I: gồm 17 HS tham gia kiểm chứng

+Nhóm II: gồm 16 HS không tham gia kiểm chứng

*Cách khảo sát:

+ Nhóm I: dạy theo PPDH tích cực

+Nhóm II: dạy theo PP truyền thống

            * Tóm lại: Qua quá tình dạy học môn Ngữ Văn với thiết kế bài soạn theo hướng tích cực, tôi thấy học sinh hăng hái, hứng thú hơn. Các em tỏ ra hứng thú hơn, thích học phát biểu trình bày về suy  nghĩ của mình, về nhà em tích cực học bài, soạn bài trước khi đến lớp. Đặc biệt các em biết trình bày những suy nghĩ cảm nhận của mình trong bài kiểm tra.

Kết quả khảo sát qua bài kiểm tra môn ngữ văn học kì I và giữa học kì II năm học 2009- 2010:

 

SLượng

  Tỷ lệ%

 

Nhóm

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm TB

Điểm yếu

HKI

Giữa HKII

HKI

Giữa HKII

HKI

Giữa HKII

HKI

Giữa HkII

I: 17 HS

2=11.8%

4=23,6%

8=47,2%

11=64,6%

5=29,2%

2= 11,8%

2=11,8%

0

II:16

HS

1=6,3%

2=12.6%

4=25,2%

6=37,0%

7=43.8%

5=32.0%

4=24.7%

3= 18,4%

                         

 

            C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

            1. KẾT LUẬN:

Như vậy dạy học là một nghệ thuật mà giáo viên là nghệ sỹ sáng tạo. Mỗi tiết học thành công là kết hợp giữa nhiều yếu tố, nó thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực ứng xử sư phạm. Kiến thức kĩ năng ngôn ngữ chuẩn mực, truyền cảm, ghi bảng chính xác, khoa học... Chính vì vậy mỗi người giáo viên luôn phải học tập rèn luyện trau dồi kiến thức kinh nghiệm, đầu tư thời gian tâm huyết để có được bài soạn tốt, giáo án hay để cuốn hút học trò, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui cho học sinh.

            2. KIẾN NGHỊ:

            *Đối với cấp trường:

            + Tiếp tục duy trì các đợt hội giảng để phát huy tính sáng tạo, tích cực, kinh nghiệm của GV vào quá trình giảng dạy.

            + Tổ chức các chuyên đề ở cấp huyện về nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy, đánh giá.

            + Chỉ đạo sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn nghiêm túc, tránh hình thức. Phải vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với mọi đối tượng.

            *Đối với giáo viên:

            + Mỗi thầy giáo cô giáo dạy Ngữ văn cần có ý thức làm thể nào để học sinh không được chán nản học môn Văn mà trái lại say mê hướng thú học hơn nữa. Muốn vậy thì việc thiết kế soạn được một hệ thống câu hỏi sinh động lôi cuốn học sinh vào học tập. Có như vậy mới phát huy được vai trò ý nghĩa của môn Văn là không chỉ rèn luyện cho học sinh kĩ năng giao tiếp mà còn tác động đến tâm hồn con người, hướng con người tới cái đẹp trong cuộc sống.

                                                                                               

                                                                                                Tháng 3 - 2010

                                                                                                 Nguyễn Đức Hà           

 

Ngày 18/06/2011
 
[ In trang ][ Xem & in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở lại ]
 
Ý kiến của bạn
Họ và tên *
Điện thoại Email :
Địa chỉ *
Nội dung *

Tin đáng chú ý
Trao đổi thêm về Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận văn bản của học sinh lớp 9.
 PM TÁC NGHIỆP
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHƯƠNG HƯNG
Trưởng ban biên tập: Thầy Nguyễn Đức Hà - Hiệu trưởng
Địa chỉ: Xã Phương Hưng, Huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320.3716214 - Fax: 0320.3716214